jame01072022
Yếu sinh lý
Các ý bạn nói đa phần giống suy nghĩ của mình nhưng có 1 số chỗ mình muốn chia sẻ thêm để nếu ai đọc được tới đây cũng sẽ hiểu rõ hơn về một số nhận định ở các mục trướcThực tâm mà nói thì lúc viết những dòng đó mình không cảm thấy sân lắm, mà chỉ đơn giản là thấy không cần thiết đọc những lời vô nghĩa nữa. Tham gia vào thớt này cái đầu tiên nên có là sự chân thật. Tuy nhiên, đều là con người sống ở cõi này cả, có người này người khác, không thể bắt ép người khác theo ý mình muốn, tốt nhất là phớt lờ.
Thiền định là thiền tập chú tâm vào một đề mục để phát triển định lực. Có 40 đề mục thiền định được Đức Phật giảng dạy, trong đó ngày nay các thiền sư chủ yếu dạy đề mục Hơi Thở, vì nó phù hợp với căn cơ nhiều người, dễ buông xả khi lên trình độ cao, vì hơi thở sẽ tự mất dần.
Vì sao cần phải tu thiền định thì ngày nay tâm trí con người bị rất nhiều yếu tố chi phối, suy nghĩ mông lung về đủ mọi vấn đề trong cuộc sống, công việc, tình cảm. Khi tâm trí tán loạn thì trí tuệ thực sự không thể phát triển.
Phật tiếng Anh là Buddha (ở vn gọi gần gũi chệch đi là Bụt) có nghĩa là Bậc Giác Ngộ. Phật Thích Ca hoặc các vị A-la-hán đều được gọi là Bậc Giác Ngộ. Tuy nhiên, Phật thì tự tìm ra con đường giác ngộ, còn các bậc A-la-hán thì không thể tự tìm ra, mà học theo sự chỉ dạy của Phật thì mới giác ngộ được.
Về lý thuyết thì cư sĩ tại gia có thể tu tập thành bậc giác ngộ và đã là bậc giác ngộ thì không khác gì so với hàng xuất gia. Trong kinh Nikaya có nói thời Đức Phật ngày xưa cũng có những cư sĩ tại gia đạt giác ngộ, nhưng phải xuất gia ngay lập tức trong vòng 7 ngày nếu không sẽ chết (nhập Niết Bàn). Vì một bậc giác ngộ vô cùng cao quý, thánh thiện và đặc biệt tới mức không thể phù hợp trong tầm vóc của một người sống tại gia với nhiều trách nhiệm đời thường.
Tuy nhiên, trong thời mạt Pháp này, theo kinh có nói là chỉ có thể tu tập chứng tới tầng thánh thứ 3 là A Na Hàm - gọi là Thánh Bất Lai - vị này sau khi chết sẽ tái sinh lên 1 cõi trời và tu trong kiếp đó chắc chắn đạt giác ngộ giải thoát.
Thiền có 2 loại là thiền định và thiền tuệ. Bạn xem lại bài #102 (https://xamvn.love/threads/14290/post-269258) mình có nói về Thiền Nguyên Thủy và Thiền Tông (Đại Thừa).
Như mình đã nói rõ, Tịnh Độ không phải là pháp môn tu tập sai, vì niệm Phật là một trong 40 đề mục thiền định như đã nói ở bên trên. Nhưng có được định tâm dù là bằng cách niệm hơi thở hay niệm Phật thì mới chỉ có Định, chứ chưa có Tuệ. Muốn trí tuệ được phát triển thì phải tiếp tục tu tập Thiền Tuệ (hay còn gọi là thiền quán, thiền vipassana).
Còn vì sao các tổ khuyến khích pháp môn này thì dễ hiểu nhất là nó phù hợp với nhiều người, nhất là căn cơ thấp kém của con người trong thời mạt pháp này. Có thể là một cầu nối để con người sau khi chết được tái sinh tới cõi trời nào đó thích hợp hơn cho việc tu tập thiền để giác ngộ giải thoát. Các tổ (cả Thiền cả Tịnh Độ) rất có thể tu tập ở một trình độ có khả năng hiểu được điều đó.
Còn bản thân những người như mình chọn tu tập thiền nguyên thủy vì cứ căn cứ theo kinh sách gốc Nikaya gần gũi với thời Đức Phật nhất, thì tu tập giác ngộ giải thoát là theo con đường Giới - Định - Tuệ có một hệ thống rõ ràng rành mạch tuần tự các bước, các việc phải làm để có thể tu tập đến được đích cuối cùng, tất nhiên không phải trong kiếp này thì cũng là duyên lành cho nhiều kiếp tới.
Các thiền sư nổi tiếng cũng không xác nhận là họ là bậc giác ngộ, thứ nhất vì giới luật cấm không được nói ra, thứ hai là có thể họ chưa giác ngộ. Còn khi giác ngộ thì có lẽ là sẽ tự biết thôi, giống như khi xưa thái tử Tất Đạt Đa giác ngộ thì ngài cũng biết vậy.
1. Thiền không phải là đi đứng nằm ngồi, Phật cũng không có hình thái nhất định,
- Thiền chính là ngoài không chấp tướng (như một bạn đã nói "phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng". Không phải nó không tồn tại mà nó là giả tướng sanh diệt trong từng sát na), Định là trong không động tâm, không có ý niệm vọng tưởng khởi lên thì tự phát sinh trí tuệ nhìn thấy được tướng chân thật của thế gian.
2. Chúng sanh hữu tình có Phật tánh, chúng sanh vô tình có Pháp tánh. Phật ở đây chính là giác ngộ tự tánh, chính là cái biết, cái chân tâm bản tánh của chính mình. Vì vậy ta lên chùa chính là thể hiện lòng thành kính, biết ơn của mình với Phật (người tìm ra con đường giác ngộ giải thoát), lạy tượng Phật cũng chính là lạy Phật trong tâm ta và Phật trong chúng sanh khác. Vì sao mọi người thường hay đi chùa là vì nơi đó từ trường rất tốt ít người khởi vọng niệm làm thân tâm người ta thanh tịnh hơn chứ không phải nơi để cầu cúng....
3. Cư sĩ tại gia lập gia đình sinh con, làm ăn kinh doanh tiêu biểu có ngày Duy Ma Cật. Ngay cả tôn giả Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên khi gặp ngài cũng phải đảnh lễ 3 lạy, nhiễu phải 3 vòng, cũng kinh như đối với Đức Phật Thích Ca, ngài đại diện tiêu biểu cho hàng cư sĩ tại gia giác ngộ chứng minh cho câu "Phật pháp tại thế gian không lìa thế gian giác" chứ không phải nhất định phải xuất giá sau 7 ngày nếu không sẽ chết
Đời nhà Đường có cả nhà cư sĩ Bàng Long Uẩn đạt dạo giác ngộ hoàn toàn những vẫn nguyện làm cư sĩ. Đời Minh có cư sĩ Viên Liễu Phàm đã hoàn toàn giác ngộ không còn bị trói buộc bởi nhân quả của chính mình nữa.
5. Tịnh Độ hay Thiền Tông hay Mật Tông.... đều phải dựa trên nền tảng của Giới -Định-Tuệ, niệm Phật chũng giống như việc chú trọng vào hơi thở để mọi người tập trung được chánh niệm (không phải chánh hay tà) vì đa phần con người thường bị suy nghĩ vọng tưởng dẫn dắt. Khi đủ đạt tới cảnh giới niệm Phật phát ra từ tự tánh thì cũng sẽ nhận được trí tuệ tự tánh vốn có.
6. Người giác ngộ thì tự mình mình biết hoặc được ấn chứng từ những người đã giác ngộ không thể diễn tả bằng lời nói vì vốn tự tánh không có hình thái nhất định. Người mà tự nhận mình giác ngộ thì chưa giác ngộ, tự nhận đạt định tức chưa định.
Chỉnh sửa lần cuối:



